Tâm lý học

10 nguồn gốc của những ngộ nhận về tâm lý học (Phần 1)

10 nguồn gốc của những ngộ nhận về tâm lý học (Phần 1)

Có một cuốn sách khá hay về tâm lý học dành cho những người ngoại đạo (như tôi và các bạn) cùng đọc mang tên: “50 ngộ nhận phổ biến của tâm lý học phổ thông” (tên gốc: 50 Great Myths of Popular Psychology). Cuốn sách chỉ ra những sai lầm phổ biến (và ảnh hưởng mạnh mẽ) mà nguyên nhân chính là hiểu sai về tâm lý học.

Đoạn tiếp theo các bạn sẽ đọc nằm trong phần giới thiệu của cuốn sách (mà chưa đi vào nội dung). Vì sao lại post lên đây phần này thay vì nội dung chính? Vì sai lầm thì có nhiều, bẫy cũng giăng mọi lúc, vấn đề của chúng ta không phải là học thuộc các bẫy để đi chém gió, vấn đề của chúng ta là hiểu gốc gác lý do để né tránh những sai lầm trong nhận thức của mình.

Các phần in nghiêng trong ngoặc là bổ sung hoặc giải thích rõ nội dung (do liên quan đến phần khác không được trích dẫn ở đây.)


Tại sao việc hiểu được những ngộ nhận về tâm lý học lại quan trọng? Có ít nhất ba lý do cho điều này:

(1) Những ngộ nhận trong tâm lý học có thể nguy hiểm. Ví dụ, những thành viên của ban hội thẩm lầm tưởng tin rằng ký ức của con người hoạt động như một băng ghi hình video có thể tự tin bỏ phiếu kết tội bị cáo dựa trên nhận thức cơ bản của mình, nhưng thiếu bằng chứng thuyết phục và chính xác. Thêm vào đó, những bậc phụ huynh lầm tưởng nghĩ rằng hình phạt thường là một phương tiện hiệu quả để thay đổi hành vi cư xử của trẻ, nên có thể đánh con mình bất cứ khi nào chúng hư. Nhưng thực tế cho thấy những hành động không mong muốn của trẻ lại trở nên thường xuyên hơn sau những lần bị phạt với đòn roi.

(2) Những ngộ nhận trong tâm lý học có thể gây ra thiệt hại gián tiếp. Ngay cả những niềm tin vô hại cũng có thể gây ra những nguy hại gián tiếp đáng kể. Những nhà kinh tế học dùng thuật ngữ cái giá của cơ hội để đề cập đến thực tế là những người tìm kiếm những biện pháp kém hiệu quả có thể phải trả giá đắt để có được sự giúp đỡ cần thiết. Ví dụ, nhiều người lầm tưởng coi sách hoặc băng hướng dẫn tự thực hành như một công cụ giúp giảm cân hiệu quả có thể dành nhiều thời gian, tiền bạc, nỗ lực vào một công cụ can thiệp vô bổ. Họ có thể bỏ qua những chương trình giảm cân khoa học hữu ích và hiệu quả.

(3) Sự thừa nhận dành cho những ngộ nhận trong tâm lý học có thể gây trở ngại đến cách suy nghĩ lý trí của ta ở nhũng lĩnh vực khác. Như Carl Sagan, một nhà thiên văn học từng nhận xét: sự thất bại của ta trong việc phân biệt ngộ nhận với thực tiễn ở một lĩnh vực thực tiễn nào đó, kể cả tâm lý học, có thể dễ dàng gây ra sự thất bại trong việc phân biệt thực tế với ngộ nhận trong những lĩnh vực quan trọng khác của khoa học hiện đại. Những lĩnh vực này bao gồm chuyển hố gien, nghiên cứu nguồn gốc tế bào, tình trạng ấm lên toàn cầu, ô nhiễm, ngăn ngừa tội phạm, học hành, chăm sóc sức khỏe, gia tăng dân số và còn nhiều lĩnh vực khác nữa. Và hậu quả là, ta có thể trở thành những người ban hành ra chính sách bất đắc dĩ với những quyết định dại dột và thậm chí là nguy hiểm về khoa học, kỹ thuật. Như Francis Bacon từng nhắc nhở ta, kiến thức là sức mạnh. Sự ngu dốt là hiểm họa.

10 nguồn gốc của những ngộ nhận về tâm lý học: Bộ công cụ giúp phát hiện ra những ngộ nhận của bạn

Những ngộ nhận và nhận thức sai lầm của tâm lý học xuất hiện bằng cách nào?

Chúng tôi (nhóm tác giả) sẽ cố gắng thuyết phục bạn rằng có 10 cách chính khiến bạn có thể bị đánh lừa bởi những khẳng định hợp lý nhưng sai trong lĩnh vực tâm lý. Thật cần thiết để hiểu rằng tất cả chúng ta đều bị tấn công bởi 10 nguồn gốc sai lầm này, và ta đều bị chúng đánh lừa hết lần này đến lần khác.

Để học được cách suy nghĩ khoa học, ta phải nhận biết được những nguồn nhận thức sai lầm này và học cách đánh bại chúng. Những khoa học gia vĩ đại cũng có thể bị những nguồn ngộ nhận này đánh lừa như một người bình thường. Nhưng những khoa học gia có được một bộ công cụ bảo vệ (được gọi là phương pháp khoa học) để bảo vệ bản thân chống lại chúng. Phương pháp khoa học là thùng công cụ với những kỹ năng được thiết lập để bảo vệ cho những nhà khoa học không bị đánh lừa. Nếu nhận ra được 10 nguồn chính của những ngộ nhận về tâm lý, bạn sẽ không bị rơi vào cái bẫy chấp nhận những khẳng định sai lầm dựa trên bản chất của con người một cách dễ dàng.

Hãy chú ý đến 10 nguồn nhận thức sai lầm này, vì chúng ta sẽ thường xuyên quay trở lại với chúng trong cuốn sách này. Thêm vào đó, bạn có thể áp dụng những nguồn ngộ nhận này để đánh giá vô số những khẳng định trong lĩnh vực tâm lý trong đời sống hàng ngày của mình. Hãy coi chúng như “Bô công cụ phát hiện ra những ngộ nhận” của bạn.

(1) Truyền miệng

Rất nhiều niềm tin sai lầm của tâm lý học dân gian được lưu truyền qua nhiều thế hệ thông qua việc giao tiếp bằng miệng. Ví dụ, vì cụm từ “khác tính thì thích nhau” rất dễ nhớ, nên mọi người thường có khuynh hướng truyền miệng cho nhau. Rất nhiều truyền thuyết cũng được lưu truyền bằng cách này. Ví dụ, bạn có thể nghe câu chuyện về những con cá sấu sống trong những cống rãnh ở thành phố New York hay một phụ nữ tốt bụng nhưng khờ khạo đã bỏ con chó ướt của mình vào lò vi sóng để hong khô nó nhưng lại làm cho chết cháy. Trong nhiều năm, tác giả đầu tiên của cuốn sách này được kể câu chuyện mà mình đã nghe nhiều lần, về một người phụ nữ mua một con vật mà cô tin rằng đó là loại chó nhỏ lông mượt, nhưng chỉ một tuần sau lại được một bác sĩ thú y cho biết rằng thực ra nó chỉ là một giống chuột khổng lồ mà thôi. Mặc dù những câu chuyện thế này có thể giúp cho những cuộc chuyện trò quanh bàn ăn rôm rả hơn, nhưng chúng cũng chẳng khác gì so với những ngộ nhận tâm lý mà chúng tôi trình bày trong cuốn sách này. Thực tế là việc ta nhiều lần nghe thấy một tuyên bố được lặp đi lặp lại cũng không làm cho nó đúng. Mà điều đó chỉ khiến ta dễ dàng chấp nhận nó như một tuyên bố chính xác mặc dù sự thật là hoàn toàn trái ngược, vì ta có thể nhầm lẫn sự quen thuộc của một câu nói khẳng định nào đó với sự chính xác của nó. Những chuyên gia quảng cáo không ngừng nói với ta rằng: “Bảy trong số tám nha sĩ được khảo sát đều khuyên mọi người dùng kem đánh răng Bright shine nhiều hơn mọi nhãn hiệu khác!”, đã lợi dụng nguyên tắc này một cách thuần thục. Hơn nữa, các cuộc nghiên cứu cho thấy rằng việc nghe thấy một người diễn đạt ý kiến của mình (như “Joe Smith là người xuất sắc nhất cho vị trí tổng thống!”) 10 lần có thể khiến ta thừa nhận ý kiến đó cũng phổ biến như khi nghe 10 người cùng diễn đạt nó. Nghe thấy thường dẫn đến niềm tin nhất là khi ta được nghe đi nghe lại một câu nói nào đó. (Chúng ta sẽ cùng bàn vấn đề này trong một bài viết khác nói về Quảng cáo)

(2) Khao khát dành cho những câu trả lời dễ và có hiệu quả tức thời

Hãy đối mặt với điều này: Cuộc sống mỗi ngày không dễ dàng, ngay cả đối với những người dễ thích nghi nhất. Rất nhiều người trong chúng ta cố gắng tìm cách để giảm cân, ngủ đủ, làm bài thi tốt, yêu thích công việc và tìm được một người bạn đời chung sống đến đầu bạc răng long. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi ta tin vào những mánh lới cung cấp cho mình lời hứa hẹn ngây ngô về những thay đổi nhanh chóng và dễ dàng. Ví dụ, chế độ ăn kiêng theo mốt thời nay là khá phổ biến, mặc dù nhiều cuộc nghiên cứu đã chứng minh rằng đa số những người áp dụng chúng bị tăng cân trở lại chỉ trong một vài năm. Cũng phổ biến không kém là những khóa học tăng tốc độ đọc, hứa hẹn giúp tốc độ đọc sách của mọi người từ chỉ 100 hoặc 200 từ trong một phút lên 10.000 hay thậm chí là 25.000 từ. Nhưng những chuyên gia nghiên cứu đã chứng minh rằng không một khóa học nào trong số này làm tăng tốc độ đọc sách của mọi người mà không làm giảm đi khả năng đọc hiểu của họ. Thêm vào đó, hầu hết tốc độ đọc sách được quảng cáo bởi những khóa học này lại cường điệu hóa quá mức tốc độ đọc tối đa của nhãn cầu mắt con người, chỉ được khoảng 300 từ trong một phút. Lời khuyên khôn ngoan là: Nếu cái gì đó có vẻ quá tốt đến nỗi khó có thể trở thành sự thật được, thì đó chỉ là quảng cáo hoặc cường điệu hóa mà thôi.

(3) Nhận thức và bộ nhớ có tuyển chọn

Như đã biết, ta hiếm khi nhận thức thực tế chính xác như bản thân nó. Ta nhìn nhận nó thông qua những lăng kính méo mó, xuyên tạc của mình. Những lăng kính này bị biến dạng bởi những thiên kiến và kỳ vọng của ta, khiến ta giải thích về thế giới dựa trên niềm tin vốn đã tồn tại trước của mình. Nhưng hầu hết mọi người trong chúng ta đều không nhận thức rõ được những niềm tin này ảnh hưởng đến nhận thức của mình như thế nào. Chuyên gia tâm lý Lee Ros và những chuyên gia khác đã gọi giả định sai lầm về cách mà ta nhìn nhận thế giới bằng một thuật ngữ chính xác với bản chất của nó là “Chủ nghĩa du thực ngây ngô”. Chủ nghĩa du thực ngây ngô không chỉ làm ta dễ bị tấn công bởi những ngộ nhận tâm lý, mà còn khiến ta không thể nhận ra chúng chỉ là những ngộ nhận ngay từ ban đầu. Một ví dụ điển hình của nhận thức và bộ nhớ có chọn lọc là khuynh hướng chỉ tập trung vào “những thành công” (những sự kiện đáng ghi nhớ) hơn là “những thất bại” (không có những sự kiện đáng ghi nhớ). Để hiểu được ý nghĩa của vấn đề này, hãy quan sát Hình1.3, bạn sẽ tìm thấy cái mà chúng tôi gọi là “Bảng biểu bốn ô”. Rất nhiều viễn cảnh trong cuộc sống hàng ngày có thể được sắp xếp trong một bảng biểu như ở bên dưới. Ví dụ, hãy tìm hiểu xem liệu trăng tròn có liên quan gì với lượng bệnh nhân của bệnh viện tâm thần, như nhiều bác sĩ và y tá phòng cấp cứu khẳng định hay không.(Có một lời đồn rằng: Vào ngày trăng tròn, số lượng bệnh nhân tâm thần nhập viện luôn cao hơn ngày thường).

123

Để trả lời câu hỏi này, ta cần khảo sát tất cả bốn ô của “Bảng Biểu Bốn Ô”: Ô “A”, bao gồm những thời điểm có trăng tròn và sự tiếp nhận bệnh nhân của bệnh viện tâm thần, ô “B”, bao gồm những thời điểm có trăng tròn nhưng không có bệnh nhân tâm thần nhập viện, ô “C”, bao gồm những thời điểm không có trăng tròn nhưng vẫn có bệnh nhân tâm thần nhập viện, và ô “D”, bao gồm những thời điểm không có trăng tròn và không có bệnh nhân tâm thần nhập viện.

Sử dụng tất cả bốn ô giúp bạn tính toán được sự tương quan giữa những thời điểm trăng tròn là số lượng bệnh nhân tâm thần nhập viện; hệ tương liên là phương pháp tính toán thống kê cho thấy hai biến số này liên quan với nhau như thế nào (nhân tiện đây, biến số còn là một thuật ngữ dùng để chỉ những gì có thể thay đổi, như chiều cao, màu tóc, chỉ số IQ, hay sự hướng ngoại).

Trong hầu hết mọi trường hợp, ta thường chú ý quá nhiều vào ô “A”, khiến đem lại một sự tương quan ảo. Vấn đề là ở đây. Trong cuộc sống thực tiễn, ta thường không giỏi trong việc đánh giá những tương quan từ “Bảng biểu bốn ô”, vì đa số chúng ta thường chú ý quá nhiều đến một số ô nhất định nào đó và lơ là những ô khác. Cụ thể là, các cuộc nghiên cứu chứng minh rằng ta thường chú ý nhiều đến ô “A”, và ít chú ý đến ô “B”. Điều đó cũng dễ hiểu thôi, vì ô “A” thường thú vị và dễ nhớ hơn ô “B”. Xét cho cùng, khi có trăng tròn và nhiều bệnh nhân tâm thần nhập viện, thì điều đó củng cố thêm niềm tin ban đầu của ta, nên ta thường có khuynh hướng chú ý, ghi nhớ và kể cho người khác nghe về nó. Ô “A” là một “sự kiện đáng nhớ”, một sự kiện nổi bật. Nhưng khi có trăng tròn và chẳng có bệnh nhân tâm thần nào nhập viện, thì ta lại hiếm khi chú ý hay ghi nhớ “sự kiện trái với dự đoán” này. Và ta cũng chẳng chạy ngay đến nhà bạn bè để hào hứng nói với họ rằng: “Ồ, tối nay trăng tròn và đoán xem điều gì xảy ra nào? Chẳng có gì cả!”. Ô “B” là một “ô không đáng ghi nhớ”, vì không có mặt của sự kiện nổi bật.

Khuynh hướng ghi nhớ thành công và quên đi thất bại của chúng ta thường gây ra một hiện tượng đáng chú ý được gọi là sự tương quan ảo, nhận thức sai lầm khiến cho hai sự kiện không liên quan lại trở nên liên quan với nhau. Sự liên quan giả định giữa trăng tròn và bệnh nhân tâm thần là một ví dụ điển hình của mối tương quan ảo. Mặc dù nhiều người tin rằng mối tương quan này tồn tại, nhưng nhiều cuộc nghiên cứu đã chứng minh rằng nó không hề tồn tại. Niềm tin vào ảnh hưởng của trăng tròn chỉ là ảo tưởng của nhận thức.

Những mối tương quan ảo có thể khiến ta “nhìn thấy” những mối liên quan không tồn tại. Ví dụ, nhiều người bị bệnh viêm khớp khăng khăng rằng những khớp xương của mình bị đau nhức nhiều hơn vào những ngày mưa so với những ngày nắng. Nhưng nhiều cuộc nghiên cứu đã chứng minh rằng mối liên quan ấy chỉ là điều ngộ nhận trong tưởng tượng của họ mà thôi. Có lẽ, những nguời bị bệnh viêm khớp cũng chú ý quá nhiều đến ô “A” của bảng biểu này (những lúc khi trời mưa và xương khớp của họ bị đau nhức) khiến họ nhận thức về một tương quan không hề tồn tại. Tương tự, những nhà não tướng học trước đây cũng đã “thấy” được sự liên kết giữa tổn thương ở một số vùng của bộ não với khiếm khuyết ở một số khả năng tâm lý nhất định nào đó, nhưng họ hoàn toàn sai lầm. Một ví dụ điển hình khác của mối tương quan ảo là nhận thức cho rằng bệnh tự kỷ ở trẻ, một triệu chứng rối loạn tâm thần, có liên quan đến những loại vaccine có chứa thủy ngân. Nhiều cuộc nghiên cứu được kiểm soát chặt chẽ đã phát hiện ra rằng chẳng có mối liên quan nào giữa tỷ lệ mắc bệnh tự kỷ ở trẻ với vaccine có chứa thủy ngân, mặc dù hàng vạn bậc phụ huynh có con bị mắc bệnh tự kỷ đều ngộ nhận tin vào điều ngược lại. Rất có thể, những bậc phụ huynh này cũng chú ý quá nhiều đến ô “A” của Bản Biểu Gấp Bốn Lần. Chẳng có gì ngạc nhiên khi họ cố gắng tìm ra một sự kiện, như chương trình tiêm chủng, để giải thích cho bệnh tự kỷ của con mình. Thêm vào đó, những bậc phụ huynh này có thể bị đánh lừa bởi sự thật rằng những triệu chứng ban đầu của bệnh tự kỷ, thường xuất hiện sau 2 tuổi, trùng khớp với độ tuổi mà hầu hết trẻ em được tiêm chủng.

(4) Suy luận kết quả từ mối tương quan

Kết luận rằng nếu hai việc cùng xảy ra (nghĩa là hai sự việc ấy có “liên quan”) thì nguyên nhân của chúng cũng phải có liên quan với nhau nghe có vẻ thuyết phục nhưng hoàn toàn sai. Như nhiều chuyên gia tâm lý học nói: Mối tương quan không có nghĩa là kết quả. Do đó, nếu biến số A và B có được mối tương quan với nhau, thì ta có thể đưa ra được ba lời giải thích chính cho hiện tượng này: (a) A có thể là nguyên nhân gây ra B; (b) B có thể là nguyên nhân gây ra A; hoặc (c) Một biến số thứ ba, C, có thể là nguyên nhân gây ra cả A và B. Nguyên nhân cuối được gọi là vấn đề của biến số thứ ba, vì C là biến số thứ ba mà có thể góp phần vào sự liên quan giữa hai biến số A và B. Vấn đề là nhiều nhà nghiên cứu theo dõi quá trình nghiên cứu có thể không bao giờ tính toán đến C; thật ra, họ có thể không bao giờ biết đến sự tồn tại của C.

Hãy cùng nhau xem một ví dụ điển hình. Rất nhiều cuộc nghiên cứu đã chứng minh được rằng tình trạng bị ngược đãi, hành hạ khi còn thơ bé sẽ khiến cho một người có nguy cơ trở thành một người nóng tính, hung hăng khi trưởng thành nhiều hơn so với những người bình thường khác. Nhiều chuyên viên điều tra đã giải thích mối liên quan này như một gợi ý rằng tình trạng bị ngược đãi, hành hạ khi còn bé sẽ gây ra hiện tượng ngược đãi, hành hạ khi trưởng thành trong cuộc sống của một người; thực ra, lời giải thích này được gọi là thuyết “vòng tuần hoàn của bạo lực”. Trong trường hợp này, những điều tra viên đang giả định rằng tình trạng bị ngược đãi, hành hạ thời thơ ấu (A) gây ra hiện tượng bạo lực khi trưởng thành (B). Lời giải thích này có thật sự đúng không? Đương nhiên, trong trường hợp này, B không gây ra A, vì B xuất hiện sau A. Một nguyên tắc cơ bản của luận lý học là nguyên nhân phải xuất hiện trước kết quả. Nhưng ta vẫn không thể loại trừ khả năng có một yếu tố thứ ba, C, giải thích cho cả A và B. Một yếu tố thứ ba có khả năng trong trường hợp này là khuynh hướng dễ bị kích động di truyền. Có lẽ, những bậc phụ huynh ngược đãi, hành hạ con mình đã thừa hưởng một khuynh hướng dễ nổi giận, hung hăng di truyền từ đời cha mẹ mình, và có thể họ cũng để lại cho con cái mình khuynh hướng này bằng con đường di truyền học. Thực tế là, có những bằng chứng nghiên cứu chứng minh rằng hiện tượng bạo lực, ngược đãi cũng bị ảnh hưởng một phần nào đó từ gien di truyền. Khuynh hướng di truyền học này (C) có thể tạo ra mối liên quan giữa tình trạng bị ngược đãi, hành hạ thời thơ ấu (A) và hiện tượng bạo lực lúc trưởng thành (B), mặc dù về mặt nguyên nhân, A và B có thể không liên quan gì với nhau. Nhân tiện đây, bạn có nghĩ rằng còn có một yếu tố nào khác có khả năng ngoài C không?

Điểm mấu chốt ở đây là khi hai yếu tố có mối tương quan, ta không nhất thiết phải cho rằng giữa chúng có một mối quan hệ trực tiếp về nguyên nhân. Ta cần phải xem xét đến những lời giải thích có khả năng.

(5) Lập luận vì thế, cho nên sai

Lập luận “vì thế cho nên” nghĩa là “do cái này, vì cái này”. Nhiều người trong chúng ta vội vàng kết luận rằng vì A xảy ra trước B, cho nên A phải là nguyên nhân gây ra B. Nhưng có rất nhiều sự kiện xảy ra trước những sự kiện khác nhưng chúng vẫn không là nguyên nhân gây ra những sự kiện ấy. Ví dụ, thực tế là tất cả những kẻ giết người hàng loạt đều ăn ngũ cốc khi còn bé thì không có nghĩa là việc ăn ngũ cốc hình thành nên những kẻ giết người hàng loạt (hay “những kẻ giết người ngũ cốc”; ta không thể bỏ qua thú chơi chữ ở đây) trưởngthành. Hoặc thực tế rằng một số người trở nên ít bị căng thẳng hơn sau khi dùng phương pháp trị liệu bằng thảo dược cũng không có nghĩa là phương pháp trị liệu bằng thảo dược là nguyên nhân hoặc thậm chí là góp phần vào sự cải thiện sức khỏe của họ. Những người này có thể trở nên ít bị căng thẳng hơn ngay cả khi không có sự hỗ trợ của phương pháp trị liệu bằng thảo dược, họ có thể tìm kiếm những phương pháp hiệu quả khác (như trò chuyện với một chuyên gia tâm lý hoặc thậm chí là người bạn thân). Có thể, dùng phương pháp trị liệu bằng thảo dược cũng tạo ra được cảm giác hy vọng ở họ, đem lại một kết quả mà những nhà tâm lý học gọi là thuốc trấn an: Sự cải thiện xuất hiện nhờ vào hy vọng muốn được cải thiện. Ngay cả một khoa học gia được đào tạo bài bản cũng có thể bị sa lầy vào lập luận nhân quả này. Trong tờ Medical Hypotheses, Flensmark đã quan sát sự xuất hiện của giày dép ở thế giới phương Tây trong khoảng 1.000 năm về trước và không lâu sau đó, có sự xuất hiện đầu tiên của bệnh tâm thần phân liệt. Từ những phát hiện này, ông giả định rằng giày dép đóng một vai trò không nhỏ gây ra bệnh tâm thần phân liệt. Nhưng sự xuất hiện của giày dép cũng trùng hợp ngẫu nhiên với những thay đổi khác, như sự lớn mạnh của hiện đại hóa hay sự gia tăng của căng thẳng về điều kiện sống, là những yếu tố có thể gây ra bệnh tâm thần phân liệt một cách trực tiếp hơn.

Tạm thời kết thúc phần 1 ở đây, phần 2 sẽ tiếp tục với 5 nguồn gốc còn lại dẫn đến ngộ nhận.

Đọc phần 2 tại đây nha


Chuyên mục: Tâm lý học