Tâm lý học

10 nguồn gốc của những ngộ nhận về tâm lý học (Phần 2)

10 nguồn gốc của những ngộ nhận về tâm lý học (Phần 2)

Tiếp theo phần 1: 10 nguồn gốc ngộ nhận về tâm lý học

(Haizz, chép lại mới thấy dài ghê ta.)

(6) Bị tác động bởi một thiên kiến tiêu biểu

Ở các phương tiện truyền thông và nhiều khía cạnh khác của cuộc sống, ta thường bị tác động bởi một điều không ngẫu nhiên (hoặc cái mà những nhà tâm lý học gọi là “thiên kiến”) tiêu biểu của một nhóm người từ công chúng. Ví dụ, một chương trình truyền hình cho rằng gần 75% những người bị bệnh liên quan đến thần kinh là có xu hướng bạo lực, mặc dù tỷ lệ thực tế của tình trạng này thấp hơn thế nhiều. Việc công bố những tin tức lệch lạc, xuyên tạc như thế có thể gây ra ngộ nhận sai lầm cho rằng hầu hết những người bị bệnh tâm thần phân liệt, rối loạn thần kinh (hâm) và những bệnh nghiêm trọng liên quan đến tâm thần khác là những người nguy hiểm.

Những chuyên gia trị liệu tâm lý cũng có thể sa lầy vào ngộ nhận này, vì họ dành hầu hết thời gian của mình làm việc với những người có vấn đề về tâm thần, tâm lý. Đây là một ví dụ: Nhiều chuyên gia trị liệu tâm lý tin rằng rất khó để mọi người có thể tự mình bỏ hút thuốc. Nhưng nghiên cứu đã cho thấy rằng rất nhiều người nghiện thuốc lá đã cố gắng bỏ thuốc thành công mà không nhờ vào phương pháp trị liệu tâm lý nào cả. Có lẽ, những chuyên gia trị liệu tâm lý này đã sa lầy vào tình trạng mà Jacob Cohen và Patricia, hai nhà thống kê, gọi là ảo tưởng nghề nghiệp, khuynh hướng mà những chuyên gia đánh giá quá mức độ nghiêm trọng của những vấn đề tâm lý, tâm thần kinh niên vì họ thường chỉ quan tâm đến những trường hợp tiêu biểu xuất hiện trong quá trình hành nghề của mình. Vì những chuyên gia điều trị cho những người nghiện thuốc chỉ thấy được những trường hợp không thể tự mình bỏ thuốc mà thôi (nếu không, thì những bệnh nhân này sẽ không nhờ đến sự hỗ trợ của họ) nên họ thường có khuynh hướng cường điệu hóa sự khó khăn mà những người nghiện thuốc phải đối mặt khi muốn tự mình cai nghiện mà không có sự hỗ trợ chuyên môn.

(7) Lập luận bởi sự tiêu biểu, điển hình

Ta thường đánh giá sự tương đồng giữa hai thứ dựa trên những nét giống nhau cơ bản bên ngoài của chúng. Những nhà tâm lý học gọi hiện tượng này là phương pháp tìm kiếm sự tiêu biểu điển hình, vì ta sử dụng phương pháp tìm kiếm xem những đặc trưng, tiêu biểu của hai thứ là gì để đánh giá mức độ tương đồng của chúng. Nhân tiện đây, phương pháp tìm kiếm tiêu biểu điển hình cũng là phương pháp đánh giá theo kinh nghiệm hoặc cảm tính.

Đa số trường hợp, thì phương pháp này đều đem lại cho chúng ta kết quả tốt. Nếu đi ra đường và bắt gặp một người bịt mặt đang chạy ra khỏi ngân hàng với một khẩu súng trên tay, ta sẽ cố gắng tránh khỏi chỗ đó càng nhanh càng tốt. Đó là vì người đàn ông này là điển hình (tiêu biểu) của những kẻ cướp nhà băng mà ta đã thấy trên ti vi, phim, ảnh. Đương nhiên, có thể anh ta chỉ đang đùa hoặc anh ta có thể là một diễn viên trong một bộ phim hành động của Hollywood đang được đóng ở đấy, nhưng thà an toàn còn hơn là phải hối tiếc. Trong trường hợp này, ta dựa vào cảm tính của mình và tốt hơn hết là ta nên làm như thế.

Nhưng đôi khi ta lại áp dụng phương pháp lập luận này trong khi không nên. Không phải tất cả những thứ có nét giống nhau bên ngoài đều có liên quan với nhau, nên đôi khi phương pháp này khiến ta đi chệch hướng. Trong trường hợp này, thì câu nói sau là đúng:

Ta không thể luôn luôn đánh giá một cuốn sách bởi bìa của nó. Thật ra, rất nhiều ngộ nhận trong tâm lý học xuất hiện từ việc áp dụng sai phương pháp tìm kiếm nét tiêu biểu, điển hình. Ví dụ, một số thầy tướng chữ (phân tích chữ viết để đoán tính cách con người) khẳng định rằng những người viết chữ có khoảng cách lớn cho thấy nhu cầu có được sự riêng tư cá nhân, hoặc những người viết dấu gạch ngang của chữ “t” và chữ “f” như những đường kẻ dài và hằn sâu thường có khuynh hướng độc ác, tàn bạo. Trong trường hợp này, những thầy tướng số đã quả quyết hai thứ có nét tương đồng bên ngoài với nhau, như việc viết chữ có khoảng cách rộng với nhu cầu riêng tư, là có liên quan với nhau. Nhưng chẳng có một cuộc nghiên cứu nào chứng minh cho những tuyên bố này cả.

Một ví dụ khác là cách vẽ hình người mà nhiều chuyên gia tâm lý học sử dụng để tìm ra những nét tính cách đặc trưng của một người với những rối loạn tâm lý. Bài tập vẽ hình người, cũng giống như Bài Kiểm Tra Vẽ Một Người phổ biến, là yêu cầu người ta vẽ hình một người (hoặc trong một số trường hợp là vẽ hình một người nam, một người nữ) theo ý họ. Một số chuyên gia áp dụng phương pháp này tuyên bố rằng những người vẽ hình người có mắt to thường bị bệnh hoang tưởng, những người vẽ đầu bự là tự cao, và những người vẽ hình người có chiếc cà vạt dài thường bị ám ảnh bởi tình dục (cà vạt dài làiểu tượng của cơ quan sinh dục nam của những người theo học thuyết Freud). Tất cả những tuyên bố này đều căn cứ vào những nét tương đồng bên ngoài giữa hình ảnh được vẽ với những tính cách tâm lý điển hình. Nhưng chẳng có cuộc nghiên cứu nào chứng minh cho những mối tương quan được giả định này cả.

(8) Thông tin sai lệch từ phim, các phương tiện truyền thông đại chúng

Rất nhiều hiện tượng tâm lý, nhất là những bệnh liên quan đến tâm thần và những phương pháp điều trị cho chúng, thường bị mô tả thiếu chính xác trong những phương tiện truyền thông và phim, ảnh giải trí. Thông thường, nhiều phương tiện truyền thông mô tả những hiện tượng này vượt quá bản chất thực của chúng. Ví dụ, một số bộ phim mô tả liệu pháp co giật điện (ECT), còn được gọi là “liệu pháp sốc”, như một phương pháp điều trị tàn bạo, hoặc thậm chí là nguy hiểm đến tính mạng. Trong một số trường hợp, như trong bộ phim kinh dị năm 1999, Căn nhà trên ngọn đồi ma, những người bị trói vào những cỗ máy liệu pháp co giật điện trong phim đã trải qua những cơn co giật mãnh liệt. Mặc dù sự thật là ECT theo một cách nào đó nguy hiểm, nhưng những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong một vài thập niên qua, như sự xuất hiện của thuốc giảm căng cơ cũng chẳng kém nguy hiểm so với phương pháp gây mê. Thêm vào đó, những bệnh nhân được điều trị bằng liệu pháp co giật điện hiện đại không hề trải qua những cơn co giật mãnh liệt.

Một ví dụ điển hình khác là, hầu hết những bộ phim của Hollywood đều mô tả những người mắc bệnh tự kỷ như những thiên tài bẩm sinh. Trong một bộ phim nhận giải thưởng của Viện Hàn lâm Điện ảnh Nghệ thuật khoa học Hoa Kỳ năm 1988, Người trong mưa, Dustin Hoffman đã dựng nên hình ảnh của một người mắc bệnh tự kỷ với “Hội chứng bác học”. Hội chứng này được mô tả bởi khả năng trí tuệ tuyệt vời, như “tính toán lịch” (khảnăng tính ra thứ trong tuần của năm và tháng bất kỳ), nhân, chia những con số lớn và kiến thức sâu rộng, có tài thể thao. Nhưng chỉ có 10% trong số những người trưởng thành mắc bệnh tự kỷ là thiên tài mà thôi.

(9) cường điệu hóa một phần sự thật

Một số ngộ nhận tâm lý không hoàn toàn sai, mà chúng chỉ là sự cường điệu hóa của những khẳng định có chứa đựng một phần của sư thật. Ví dụ, sự thật là nhiều người trong chúng ta không nhận ra được đầy đủ tiềm năng trí tuệ của mình. Nhưng sự thật này không có nghĩa là hầu hết mọi người chúng ta chỉ sử dụng 10% khả năng của bộ não mình, như nhiều người ngộ nhận. Thêm vào đó, một vài sự khác biệt về sở thích và tính cách giữa hai người làm cho mối quan hệ tình cảm của họ thêm thú vị hơn có thể là đúng. Đó là vì chia sẻ cuộc đời mình với một người luôn đồng quan điểm với bạn về mọi thứ có thể khiến cho đời sống tình cảm của bạn hòa thuận, nhưng khá tẻ nhạt, buồn chán. Nhưng thực tế này không nghĩa là khác tính thì thích nhau, vẫn còn nhiều ngộ nhận khác sa lầy vào việc đánh giá quá mức những khác biệt nhỏ. Ví dụ, mặc dù nam và nữ thường có sự khác biệt trong phong cách giao tiếp, nhưng một số chuyên gia tâm lý, nhất là John Gray, đã biến một phần sự thật này thành một tuyên bố cường điệu hóa là “đàn ông đến từ sao Hỏa” và “phụ nữ đến từ sao Kim”.

 (10) Sự nhầm lẫn về thuật ngữ

Một số thuật ngữ tâm lý học cũng góp phần vào những suy luận sai của bản thân chúng. Ví dụ, thuật ngữ “tâm thần phân liệt”, mà nhà vật lý học người Thụy Sĩ, Eugen Bleuler (1911) nghĩ ra vào đầu thế kỷ 20, có nghĩa là “tâm trí bị chia đôi”. Và kết quả là, nhiều người lầm tưởng rằng những người bị tâm thần phân liệt thường có nhiều hơn một tính cách. Thật ra, ta thường nghe thuật ngữ “tâm thần phân liệt” trong ngôn ngữ hàng ngày để chỉ về những trường hợp mà một người có hai quan điểm khác nhau về một vấn đề (“Tôi cảm thấy như tâm trí bị chia đôi về bạn gái mình; tôi thích cô ấy nhưng cảm thấy bực mình về những tính xấu của cô ấy”). Do đó, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi nhiều người nhầm lẫn thuật ngữ này với một căn bệnh được gọi là “rối loạn đa tính cách” (ngày nay được biết đến như là bệnh “rối loạn tính cách”), được coi là tình trạng có nhiều hơn một tính cách ở cùng một người. Thực tế là, những người bị bệnh tâm thần phân liệt chỉ có một tính cách nhưng tính cách ấy bị phân lập. Thật ra, Bleuler đã cố ý dùng thuật ngữ “tâm thần phân liệt” để đề cập đến thực tế là những người có hội chứng này thường đối mặt với sự phân lập chức năng của bộ não, như suy nghĩ, cảm xúc, do đó, những ý nghĩ của họ không tương ứng với cảm xúc của mình. Tuy nhiên, trong thế giới của tâm lý học phổ thông, ý nghĩa chính xác và nguyên thủy trong thuật ngữ của Bleuler đã bị mất. Điều này khiến cho nó được hiểu sai là một người hành động giống như hai người hòan toàn khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau, và cách hiểu này đã ăn sâu vào nền văn hóa hiện đại.

Ta hãy cùng xem một ví dụ khác, thuật ngữ “thôi miên” có nguồn gốc từ tiền tố Hy Lạp “hypno”, nghĩa là ngủ (thật ra, một số nhà thôi miên trước đây cho rằng thôi miên là một hình thức của giấc ngủ). Thuật ngữ này co thể khiến nhiều người, kể cả những chuyên gia tâm lý, cho rằng thôi miên là một trạng thái giống như ngủ. Trong phim, những nhà thôi miên thường cố gắng tạo ra một trạng thái thôi miên bằng cách nói với khách hàng của mình rằng “Bạn đang buồn ngủ”. Nhưng thực tế, thôi miên chẳng có mối quan hệ tâm lý nào với giấc ngủ cả, vì những người bị thôi miên vẫn hoàn toàn thức và nhận ra những gì xung quanh mình.

Chúc ta đã tạm kết thúc phần giới thiệu về cuốn sách: “50 ngộ nhận phổ biến của tâm lý học phổ thông”. Về những ngộ nhận được nêu trong cuốn sách, chắc cũng tùy, hay ho thì tui chép lên đây để ghi nhớ thêm lần nữa.


Chuyên mục: Tâm lý học